TẠO HỨNG THÚ HỌC TỪ VỰNG MÔN TIẾNG TRUNG DU LỊCH CHO SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ TRUNG QUỐC

Thứ năm - 04/05/2017 00:06
TẠO HỨNG THÚ HỌC TỪ VỰNG MÔN TIẾNG TRUNG DU LỊCH CHO SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ TRUNG QUỐC
                                                      Nguyễn Thị Lan - Khoa Du lịch & Ngoại ngữ
           
            Trong việc học ngoại ngữ nói chung và học môn tiếng Trung nói riêng, việc học từ vựng đóng một vai trò rất quan trọng. Bởi từ vựng là nền tảng để phát triển các kỹ năng khác của một ngôn ngữ. Vì vậy trong việc dạy và học tiếng Trung việc lựa chọn các phương pháp dạy và học từ vựng (đặc biệt là từ vựng môn tiếng Trung du lịch) nào cho phù hợp là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công mà cả người dạy và người học cần cân nhắc khi áp dụng. Mặt khác chúng ta đều biết rằng, để lĩnh hội thành công kiến thức của bất kỳ lĩnh vực nào thì không thể không nhắc đến một trong những yếu tố quan trọng đó là hứng thú của người lĩnh hội nó. Đối với việc học Ngoại ngữ thì  hứng thú học tập là một trong những yếu tố quan trọng cơ bản bước đầu có ảnh hưởng lớn đến việc thành công hay thất bại trong việc học Ngoại ngữ. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tạo hứng thú cho sinh viên trong việc học Ngoại ngữ nói chung, học tiếng Trung (đặc biệt là học phần Tiếng Trung du lịch) nói riêng là vấn đề được hầu hết giáo viên trực tiếp giảng dạy Ngoại ngữ quan tâm. Chính vì thế tại buổi hội thảo này tôi mạnh dạn đưa ra vấn đề “ Tạo hứng thú học từ vựng môn tiếng Trung du lịch” để thảo luận, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tạo hứng thú học từ vựng môn tiếng Trung du lịch, nhằm nâng cao chất lượng học môn tiếng Trung du lịch cho lớp DK04 –NTQ sắp tới.
I. Vai trò của từ vựng trong việc học Ngoại ngữ
            Trong quá trình học ngoại ngữ, việc học từ vựng đóng vai trò quan trọng đối với người học. Nếu học không có vốn từ vựng nhất định, họ hoàn toàn không thể diễn tả được điều gì trong giao tiếp. Như vậy từ vựng là công cụ giúp người học có thể tiến hành thành công.
            Trong dạy và học Ngoại ngữ, từ vựng là một trong ba thành tố tạo thành hệ thống kiến thức ngôn ngữ và đóng vai trò là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp. Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, vai trò của từ vựng cũng hết sức quan trọng. Có thể thấy một ngôn ngữ là một tập hợp của các từ vựng. Không thể hiểu ngôn ngữ mà không hiểu biết từ vựng, hoặc qua các đơn vị từ vựng. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chỉ hiểu các đơn vị từ vựng riêng lẻ, độc lập với nhau mà chỉ có thể nắm vững được ngôn ngữ thông qua mối quan hệ biện chứng giữa các đơn vị từ vựng. Như vậy việc học từ vựng và rèn luyện kĩ năng sử dụng từ vựng là yếu tố hàng đầu trong việc truyền thụ và tiếp thu một ngôn ngữ nói chung và tiếng Trung nói riêng. Vì từ vựng là một đơn vị ngôn ngữ nên nó được thể hiện dưới hai hình thức: Lời nói và chữ viết. Muốn sử dụng được ngôn ngữ đó, tức là phải nắm vững hình thức biểu đạt của từ bằng lời nói và chữ viết. Song do có mối liên quan của từ vựng với các yếu tố khác trong ngôn ngữ (ngữ pháp, ngữ âm, ngữ điệu ...) hoặc trong tình huống giao tiếp. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng để xây nên một bức tường ngôn ngữ thì từ vựng là “những viên gạch” còn ngữ pháp và các cấu trúc câu là “những mạch vữa” để gắn kết những viên gạch tạo nên bức tường ngôn ngữ. Nếu không có một vốn từ vựng cần thiết thì người học không thể sử dụng các cấu trúc câu và các chức năng ngôn ngữ trong giao tiếp. Tuy nhiên, các quan điểm dạy và học từ vựng trong tiếng Trung cũng như các ngôn ngữ khác không ngừng biến đổi dẫn đến các phương pháp dạy và học từ vựng cũng đã có nhiều thay đổi để phù hợp.
II. Hứng thú trong học tập ngoại ngữ
1. Hứng thú là gì?
            Có nhiều định nghĩa khác nhau về hứng thú.Tuy nhiên, trong nghiên cứu này sử dụng định nghĩa “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với những đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa mang lại sự khoái cảm cho cá nhân trong hoạt động” của tác giả Huỳnh Văn Sơn [2,tr.196].
2. Vai trò và biểu hiện của hứng thú
            Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức tăng sức làm việc. Vì thế cùng với nhu cầu hứng thú là một trong hệ thống động lực của nhân cách.
            Trong hoạt động nhận thức, hứng thú có vai trò quan trọng. Khi một hình ảnh tác động trực tiếp vào giác quan thì ngay lập tức ta có thể cảm nhận được hình ảnh đó như thế nào. Tri thức sẽ giúp ta nhớ lại, nếu có hứng thú thì hình ảnh sẽ được ghi nhớ lâu hơn. Trong hoạt động day học cần phải lưu ý một cách nghiêm túc với vấn đề, kích thích tư duy độc lập của người học, thúc đẩy người học tìm tòi chân lý. Tính độc lập suy nghĩ của người học là cơ sở vững chắc để việc học tập của người học có hiệu quả.
            Trong những giờ học trên lớp, tư duy tích cực được kích thích  sẽ xuất hiện thái độ tích cực đối với môn học sẽ hình thành hứng thú học tập. Hứng
thú học tập chính là thái độ của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự lôi cuốn về tình cảm, ý nghĩa thiết thực trong quá trình nhận thức.
 3. Hứng thú học tập môn ngoại ngữ
            Theo Dornyei hứng thú học ngoại ngữ chính là những nỗ lực mà người học có được để học một ngôn ngữ nào đó. Hứng thú là chìa khóa dẫn đến thành công trong học tập.
            Holt cho rằng hứng thú học tập ngoại ngữ là cách thức mà người học thực hiện để học một ngôn ngữ nào đó.Hứng thú học Ngoại ngữ có thể hiểu là yếu tố liên quan đến thái độ học tập. Gardner cho rằng hứng thú học tập là những mong muốn, nguyện vọng học một ngoại ngữ nào đó.    
            Như vậy có thể nói hứng thú trong học tập rất quan trọng, cần thiết và là điều kiện để năng cao hiệu quả của môn học. Hứng thú học tập là một động cơ mạnh, một nhân tố kích thích người học hăng say học tập, mong muốn đi sâu tìm hiểu, khám phá môn học mình ưa thích. Thường một sinh viên đạt được kết quả cao trong học tập, một mặt là nhờ sự phát triển về mặt trí tuệ, một mặt là nhờ sự yêu thích môn học, nên từ đó người học say sưa học tập, thoả mãn nhu cầu nhận thức của bản thân.
            Hứng thú trong học tập còn góp phần nâng cao tính tích cực, chủ động của người học. Nhờ có hứng thú học tập mà người học chủ động, tích cực học, tự tổ chức hoạt động của mình, kiên trì tìm tòi sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà giảng viên giao cho, đạt hiệu quả cao trong học tập.
            Tóm lại, để học tốt học phần Tiếng Trung Du lịch,sinh viên  không thể tách khỏi việc nắm vững những từ vựng cần học trong học phần. Hơn nữa để học tốt từ vựng thì giảng viên giảng dạy phải tạo ra được hứng thú học cho sinh viên. Khi sinh viên có được hứng thú với việc học từ vựng, sinh viên sẽ say mê tìm tòi học tập và một khi đã có hứng thú học từ vựng của học phần Tiếng Trung Du lịch thì tác động tích cực trở  lại là việc học giỏi môn này sẽ không  còn là trở ngại lớn đối với các sinh viên. Nhận thức được vai trò quan trọng như vậy của hứng thú trong học tập, hiện nay các  giảng viên tiếng Trung đều rất quan tâm đến việc hình thành và phát triển hứng thú học tập từ vựng học phần Tiếng Trung Du lịch cho sinh viên, nhằm nâng cao hiệu quả  giảng dạy và học tập môn này.
III. Những yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập học phần Tiếng Trung du lịch
1. Yếu tố chủ quan
Trình độ phát triển trí tuệ củangười học: Đây là yếu tố quan trọng giúp sinh viên nhận thấy tầm quan trọng của việc học mônà nghề nghiệp sau này của mình.
Thái độ đúng đắn đối với nội dung môn học: Khi sinh viên có trình độ phát triển trí tuệ, họ sẽ thể hiện thái độ học tập tích cực, chủ động, sáng tạo để chiếm lĩnh
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo khi học môn này.
2. Yếu tố khách quan
Đặc điểm môn học: là cơ cấu, nội dung, tính chất, sự sắp xếp chương trình môn học theo đặc điểm của ngành học.
Người dạy: bộc lộ qua trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, thái độ trong việc tổ chức, điều khiển quá trình dạy - học. Đây được xem là yếu tố quan trọng tạo nên hứng thú ở người học.
Điều kiện cơ sở vật chất: tài liệu, sách vở, phương tiện dạy học. Tuy không phải là yếu tố quyết định nhưng là yếu tố cần thiết tác động đến kết quả học tập của người học. Nếu được học tập trong điều kiện vật chất đầy đủ người học thấy học này có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống thoải mái, dễ chịu,
giúp họ học tập tốt hơn.
Môi trường học tập: là không khí lớp học, mối quan hệ với bạn bè, thầy cô… trong tập thể có nề nếp, có sự thi đua học tập cũng là yếu tố giúp từng cá nhân vươn lên trong học tập.
IV. Thực trạng giảng dạy môn tiếng Trung du lịch
1. Đặc điểm học phần Tiếng Trung du lịch
Theo chương trình đào tạo tại trường Đại học Sao Đỏ, học phần Tiếng Trung du lịch được xây dựng gồm 5 tín chỉ. Học phần này được bố trí học sau các học phần tiếng Trung cơ bản. Nội dung học phần hướng đến  kiến  thức  chuyên ngành giới thiệu những điểm du lịch ở Việt Nam như  Hà Nội, Vịnh Hạ Long, Thánh Địa Mỹ Sơn, Cố Đô Huế, Nha Trang, Thành Phố Hồ Chí Minh...Học phần Tiếng Trung du lịch gồm 10 bài, kết cấu cơ bản của mỗi bài đều  giống nhau gồm: từ vựng, nội dung bài đọc, hiện tượng ngữ pháp tương ứng và phần luyện tập nhằm đạt các mục tiêu kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Nội dung học phần tập trung giới thiệu đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, khí hậu, phong tục, tập quán, tôn giáo, lễ hội, làng nghề, món ăn truyền thống, cảnh đẹp và con người của những điểm đến đã được lựa chọn giảng dạy.
            Như vậy có thể thấy nội dung chương trình trong học phần Tiếng Trung du lịch hoàn toàn phù hợp đối với sinh viên ngành Du lịch, ngành ngôn ngữ Anh và  ngôn ngữ Trung Quốc.
2. Đặc điểm từ vựng trong học phần Tiếng Trung du lịch  
Nội dung từ vựng trong học phần Tiếng Trung du lịch không đơn thuần chỉ các đồ vật thường xuất hiện trong đời sống hàng ngày, mà nó là những khái niệm trừu tượng không thể sờ, nắm được. Số lượng từ vựng cũng nhiều hơn số lượng từ vựng trong học phần tiếng Trung cơ bản rất nhiều. Bên cạnh đó, các từ vựng đều khó nhớ vì không thường xuyên sử dụng, có nhiều từ không có trong từ điển nhất là những tên địa danh, tên riêng hay tên các món ăn đặc sản của từng vùng miền. Nếu khi lên lớp giảng viên giảng dạy không áp dụng được những phương pháp tạo hứng thú với việc học từ vựng thì giờ học đó có thể sẽ trầm, thậm chí tạo ra áp lực, căng thẳng, dẫn đến cảm giác khó học và không muốn học.
3. Đội ngũ giảng viên
            Đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy Tiếng Trung có 4 giảng viên. Các giảng viên có đặc điểm chung đều là nữ, trẻ, vừa mới tốt nghiệp trường Đại học được mấy năm. Điều này vừa tạo ra lợi thế nhưng cũng có những hạn chế nhất định. Lợi thế là những giảng viên vừa mới ra trường rất nhiệt tình với công việc, tâm huyết với nghề, dễ hoà đồng với sinh viên, và có những sự sáng tạo nhất định, luôn tích cực nghiên cứu tài liệu và tìm kiếm những phương pháp dạy học sáng tạo và phù hợp với sinh viên. Hơn nữa, kiến thức tiếng Hán cũng như những phương pháp học tập vừa mới tích luỹ được khi học Đại học còn rất cập nhật và nhanh chóng được truyền lại cho sinh viên.
            Hạn chế là những giảng viên vừa mới ra trường còn thiếu khá nhiều kinh nghiệm. Mặt khác, trong tổng số 4 giảng viên tiếng Trung mới có 3 giảng viên đã tham giảng dạy học phần Tiếng Trung Du lịch cho các đối tượng sinh viên ở các khóa khác nhau. Cụ thể lớp 05 Cao đẳng Ngoại Ngữ (14 sv), 06 Cao đẳng Ngoại Ngữ (26 sv),  lớp DK03-NTQ  Đại học Tiếng Trung (18 sv). Tuy nhiên việc các giảng viên lần đầu tiên tham gia giảng dạy học phần này kết hợp với việc các giảng viên đều chưa có kinh nghiệm về giảng dạy nghiệp vụ Hướng dẫn Du lịch, nghiệp vụ Thuyết minh du lịch, đặc biệt tất cả các giảng viên tham gia giảng dạy chưa từng tham gia vào các tour du lịch thực tế tại các điểm du lịch trong chương trình có hướng dẫn bằng tiếng Trung cũng là một trong những khó khăn lớn trong việc giúp cho sinh viên học tập học phần này đạt kết quả như mong muốn. Vì thế, trong quá trình giảng dạy thực tế đối với các lớp đã dạy, thì việc dạy từ vựng của giảng viên trong học phần Tiếng Trung Du lịch mới chỉ dừng lại ở việc dạy nghĩa của từ, đọc dịch bài đọc và yêu cầu sinh viên nói lại nội dung.
4. Sinh viên tham gia học học phần Tiếng Trung du lịch
            Học phần Tiếng Trung du lịch được đưa vào giảng dạy cho các khóa 05, 06 Cao đẳng Ngoại ngữ không phải là chương trình chính khóa, nó chỉ là môn học chứng chỉ yêu cầu trước khi tốt nghiệp ra trường. Hơn nữa, sinh viên khóa 05, 06 Cao đẳng Ngoại ngữ học tiếng Trung cơ bản 1,2 (trước học phần này) như một môn học không chuyên, do đó hứng thú và thời gian dành sinh viên dành cho học phần tiếng Trung cơ bản 1,2 không nhiều nên kết quả học tập chưa cao như mong muốn. Chính điều này cũng tạo ra những khó khăn lớn trong việc học học phần tiếng Trung du lịch.
Học phần Tiếng Trung du lịch được đưa vào giảng dạy sinh viên lớp DK03-NTQ chuyên ngành Tiếng Trung với tư cách là môn học thay thế khóa luận tốt nghiệp, do đó các sinh viên tham gia học không có lực khá và giỏi, đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của học phần.
V. Đề xuất tạo hứng thú học từ vựng môn Tiếng Trung du lịch
1. Về phía nhà trường
            Nhà trường là nơi cung cấp các dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu của sinh viên khi học tập tại trường. Chính vì thế, nhà trường cần chú ý hơn nữa các trang thiết bị phục vụ dạy và học cho sinh viên. Trong quá trình giảng dạy, giảng viên nhận thấy rằng việc sắp xếp phòng học cho một số lớp có lượng sinh viên ít hay quá đông chưa hợp lý vì nó ảnh hưởng đến các hoạt động mà giảng viên thực hiện trong quá trình giảng dạy hoặc khả năng nghe, nhìn bị ảnh hưởng. Mặt khác, các máy chiếu tại một số phòng học đã mờ, sinh viên ngồi ở xa rất khó nhìn thấy nội dung trên bảng chiếu. Tất cả những điều này ít, nhiều đều ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên.
2. Về phía giảng viên
            Giảng viên là người truyền lửa, khơi lên sự hứng thú cho sinh viên trong quá trình học tập. Chính vì thế, yêu cầu đầu tiên là giảng viên không những phải có kiến thức chuyên môn vững vàng  mà còn phải có kỹ năng giao tiếp, ứng xử sư phạm và đặc biệt là phải biết sử dụng những phương pháp giảng dạy tích cực để tạo sự chủ động tiếp thu, lĩnh hội, tìm tòi, sáng tạo nơi sinh viên.
Thứ hai là ngoài việc áp dụng các phương pháp dạy từ vựng thông dụng đối với các học phần tiếng Trung cơ bản ra đòi hỏi giảng viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức để thiết kế những bài giảng dạy từ vựng bằng powpoint có hình ảnh minh họa hoặc sơ đồ hóa để học sinh có thể thực tế tư duy trực tiếp, giúp sinh viên dễ nhớ, dễ hiểu, dễ liên tưởng.
Thứ ba là giảng viên phải sưu tầm những đoạn video giới thiệu về những điểm du lịch có trong chương trình học bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng Trung (nếu có) yêu cầu sinh viên nghiên cứu trước khi đến lớp. Trên lớp giảng viên sẽ sử dụng để kiểm tra việc vận dụng từ vựng đã học của sinh viên bằng cách yêu cầu sinh viên thuyết trình về điểm du lịch mà mình đã học.
Thứ tư là giảng viên giảng dạy học phần tiếng Trung du lịch phải được tham gia vào các tuor du lịch có khách Trung Quốc sang Việt Nam tham quan
để có thực tế từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy.
3. Về phía sinh viên
- Giao nhiệm vụ về nhà cho sinh viên xây dựng các đoạn hội thoại theo tình hình thực tế ở các điểm du lịch giảng dạy trong chương trình và yêu cầu sinh viên đóng vai là khách du lịch và người hướng dẫn viên du lịch.
- Yêu cầu sinh viên tìm các video giới thiệu các điểm du lịch bằng tiếng Việt sau đó thiết kế làm phụ đề bằng tiếng Trung.
 - Yêu cầu sinh viên thiết kế các trò chơi game từ vựng có liên quan đến bài học. Các game này sẽ được chuẩn bị trước ở nhà và gửi cho giảng viên trước khi lên lớp. Trên lớp các sinh viên sẽ tổ chức thực hiện trước khi vào học bài mới.
4. Đổi mới kiểm tra đánh giá
            Nội dung kiểm tra đánh giá không thông qua bài thi cuối kỳ mà thay bằng bài tập lớn, kết hợp với việc đóng vai là hướng dẫn viên du lịch thuyết  trình về một điểm du lịch cụ thể.
VI. Kết luận
          Hứng thú học tập là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học Ngoại ngữ của sinh viên nói chung, việc học từ vựng trong từng môn học nói riêng. Do đó trong mỗi bài giảng của từng tiết học từ vựng của những học phần khác nhau thì ngoài phương pháp giảng dạy từ vựng chung sẽ có những phương pháp giảng dạy từ vựng riêng phù hợp với nội dung mỗi học phần, vì thế đòi hỏi giảng viên luôn phải tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra những phương pháp phù hợp với đặc điểm môn học mình đảm nhiệm, giúp sinh viên có hứng thú với môn học và  học môn học đó đạt hiệu quả cao nhất. Mặt khác, với thực tế môn tiếng Trung du lịch giới thiệu về những địa điểm du lịch ở Việt Nam hiện tại trên thị trường không có tài liệu chính thống để giảng dạy do đó việc tạo hứng thú cho việc học từ vựng môn này cũng gặp nhiều khó khăn. Vậy làm thế nào để sinh viên học tập môn này đạt kết của cao nhất là vấn đề cần được bàn bạc và giải quyết. Trên đây chỉ là một số ý kiến chia sẻ kinh nghiệm theo ý kiến cá nhân được đúc rút sau thời gian ngắn tham gia giảng dạy đối với học phần Tiếng Trung du lịch. Vì thế bài viết sẽ khó tránh khỏi cách nhìn phiến diện, chủ quan của bản thân. Rất mong sự góp ý của các đồng chí để chúng ta có những phương pháp giảng dạy từ vựng hiệu quả, giúp cho sinh viên không có cảm giác sợ và chán nản khi học.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Nghiên cứu trao đổi
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập17
  • Hôm nay924
  • Tháng hiện tại17,533
  • Tổng lượt truy cập582,353
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây