NGHI LỄ CƯỚI CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI MƯỜNG BI, XÃ PHÚ VINH, HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH

Thứ hai - 01/02/2016 21:04
NGHI LỄ CƯỚI CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI MƯỜNG BI, XÃ PHÚ VINH, HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH
                                     Nguyễn Thị Thảo-Khoa Du Lịch & Ngoại ngữ
 
            Hòa Bình là cái nôi của người Mường với câu nói “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động”. Cái tên Mường Bi có từ bao giờ chưa ai giải thích được, văn hóa Mường Bi là một kho tàng đồ sộ những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần phong phú. Các món ăn của người Mường đậm đà hương vị của vùng núi Tây Bắc “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui”;  bộ váy Mường nổi tiếng với cạp váy nhiều họa tiết hoa văn tinh tế ,chứa đựng nhiều giá trị lịch sử- nhân văn; ngôi nhà sàn Mường là một công trình kiến trúc độc đáo tiêu biểu cho văn hóa tộc người,..và trong kho tàng văn hóa của người Mường Bi thì đám cưới của người Mường cũng mang những giá trị văn hóa và nhân văn sâu sắc. 
                                         
            Hòa Bình là cái nôi của người Mường với câu nói “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động”. Cái tên Mường Bi có từ bao giờ chưa ai giải thích được, văn hóa Mường Bi là một kho tàng đồ sộ những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần phong phú. Các món ăn của người Mường đậm đà hương vị của vùng núi Tây Bắc “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui”;  bộ váy Mường nổi tiếng với cạp váy nhiều họa tiết hoa văn tinh tế ,chứa đựng nhiều giá trị lịch sử- nhân văn; ngôi nhà sàn Mường là một công trình kiến trúc độc đáo tiêu biểu cho văn hóa tộc người,..và trong kho tàng văn hóa của người Mường Bi thì đám cưới của người Mường cũng mang những giá trị văn hóa và nhân văn sâu sắc.
            Xã Phú Vinh, tương truyền thưở xa xưa là trung tâm của mường Bi với câu nói “Trước Đung Ngau sau Lầm Ải” nghĩa là thế lực cai quản mường đầu tiên ở mường Đung, mường Ngau ở xã Phú Vinh sau đó mới về mường Lầm, mường Ải của xã Phong Phú bây giờ. Nghi lễ cưới xin của người Mường Bi ở xã Phú Vinh vì vậy mang những nét đặc trưng cho nghi lễ cưới của người Mường.
            Trai gái Mường đến tuổi trưởng thành họ tìm hiểu và trao đổi tâm tình để tìm người bạn đời của mình thông qua những cuộc hát đúm, hát ví, hát thường đang bọ mẹng,…vào những dịp lễ hội, cưới xin được tổ chức trong cộng đồng bản làng. Trước đây người Mường Bi ít kết hôn với người của các tộc người khác, họ hàng cách nhau 9 đời mới được lấy nhau và khi chế độ quan lang còn tồn tại thì con nhà dân không được phép lấy con nhà Lang hoặc lấy thì cũng phải chịu thân phận thấp hèn.  Khi một đôi trai gái tâm đầu ý hợp thì người con trai sẽ về thưa với bố mẹ để hỏi người con gái về làm vợ. Trước đây việc cưới xin của con cái thường tuân theo sự sắp xếp của cha mẹ, nên dù có yêu nhau đến mấy mà không được sự đồng ý của cha mẹ thì đôi trai gái cũng không thể trở thành vợ chồng. Nếu ý kiến của chàng trai được cha mẹ ưng thuận thì nghi thức cưới của người Mường Bi ở xã Phú Vinh được diến ra theo các bước:
            Bước đầu tiên là “ti nòm đuổi chó”
            Theo tiếng mường nòm là quà, đi nòm đuổi chó có nghĩa là nhà trai sẽ nhờ ông mối sang nhà gái thưa chuyện, vì lần này sang nhà gái bất ngờ, nhà gái không được biết trước nên chủ nhà phải ra trông chó cho ông mờ nên người ta gọi là nòm đuổi chó. Lần đầu này ông mờ mang nòm sang nhà gái gồm 2 chai rượu trắng được cho vào túi, khi bước chân vào nhà cô gái ông sẽ treo túi rượu này vào cửa ra vào của chủ nhà. Sang lần này ông thông báo cho nhà gái biết rằng nhà trai muốn xin cô gái của chủ nhà về làm dâu mong bố mẹ cô gái động viên và tác thành hạnh phúc cho đôi trai gái.
            Bước thứ hai là đi kháo thiếng( lễ ướm hỏi)
            Lần này cách ngày nòm đuổi chó 3 ngày. Lần thứ hai sang nhà gái cũng chỉ có ông mờ, ông mờ mang 2 chai rượu trắng, một lạng chè. Sang lần này ông mờ có ý nhắc lại chuyện hôm trước, lúc này cũng có mặt cô gái ở nhà. Hai chai rượu lần này mang tới dù đôi trai gái có trở thành vợ chồng hay không thì nó cũng thuộc về nhà gái, nhà gái không phải trả lại nhà trai nếu đôi trai gái không thành vợ chồng. Lần thứ hai có mặt bố mẹ cô gái và cô gái, nếu nhà gái đồng ý thì họ nói khéo với ông mối “ Hôm nào đó bác có ấm chè hay chai rượu, tôi với bác nói với nhau làm tin…”. Ông mờ về báo tin cho nhà trai và bên nhà trai chuẩn bị lễ vật ăn hỏi sang nhà gái.
            Bước thứ 3 là ti cơm non( lễ hỏi lần thứ nhất)
           Lễ đi cơm non có ông mờ và vài ba người họ nhà trai mang lễ vật đến nhà gái bao gồm: 1 yến xôi nếp, 1 đôi gà gồm 1 trống và 1 mái, có thể gà sống hoặc được luộc chín, 3 đến 5 lít rượu, 1kg chè, 60 chiếc bánh quạch (bánh làm từ bột gạo nếp, dài gần 1 gang tay, bằng hai đầu ngón tay). Mục đích của lễ cơm non là lễ thức nhằm cám ơn công sinh thành của bố mẹ cô dâu. Lễ vật này sẽ được nhà gái chia cho họ hàng và người được nhận phải có trách nhiệm đối với nhà gái. Tùy thuộc vào quan hệ ruột thịt gần gũi mà họ hàng có thể chuẩn bị cho nhà gái rượu cần và khăn đội đầu cho chú rể. Người ta gọi công việc này là tục xin tiền bên nhà gái.
           Bước thứ 4( Lễ hỏi lần thứ hai- ti nòm khẳn)
           Nhà trai cử 8 đến 10 người, ông mối, hoặc có cả chủ rể đi cùng sang nhà gái mang theo lễ vật gồm 1 con lợn 30-35kg, 5-6 yến gạo nếp, rượu 5 lít, 1-2 kg chè. Hôm này nhà gái sẽ chuẩn bị cơm mời đoàn nhà trai, ăn uống xong hai bên nhà trai và nhà gái bàn bạc và thống nhất về lễ vật thách cưới, ngày và giờ tổ chức đón dâu, đưa dâu,…
Sau hôm đi nòm khẳn nhà trai sẽ về mua chè đi mời họ hàng và xin tiền họ hàng. Cũng tùy thuộc vào quan hệ thân thích mà nhà trai nhờ họ hàng chuẩn bị cho đám cưới. Đối với anh em ruột thịt thì nhờ mỗi nhà giúp 1 đến 2 yến gạo nếp, 5 đồng bạc, và một chiếc váy mới cho cô dâu. Trước ngày cưới 1 hôm nhà trai tổ chức họp tiền, hôm này họ hàng mang nhưng đồ vật giúp nhà trai đến. Nhà trai kiểm lại xem lễ vật mang sang nhà gái đã đủ chưa. Thông thường nhà trai phải chuẩn bị lễ vật cho nhà gái gồm: 1 đến 2 tạ gạo, 1 đôi gà gồm một sống và một mái, 20 lít rượu, 1 con lợn từ 60-80kg, 2 chai rượu màu(rượu thuốc), 2 chai rượu trắng, 120 đồng tiền(tiền trốp) và 10 đồng làm lõi nòm( đặt vào mâm trầu cau), 4 cây mía và trầu cau. Hôm họp tiền nhà trai ngoài làm cơm thiết họ hàng nhà mình thì còn phải chuẩn bị 2 mâm cơm mang sang nhà gái và 1 mâm cơm mang sang nhà ông mờ. Khi đã chuẩn bị xong lễ vật họ hàng nhà trai chuẩn bị đan sọt, đan lồ, đan mâm,…để đựng lễ vật mang sang nhà gái. Tất cả lễ vật được anh em họ hàng nhà trai mang sang nhà gái từ hôm trước ngày cưới để nhà gái làm cỗ cưới, riêng trầu cau và 4 cây mía để hôm sau mang sang.
            Bước thứ 5 là lễ cưới(ti cháu)
            Vào ngày cưới đoàn nhà trai đến nhà gái lúc đầu sáng khoảng 8-9 sáng, đoàn nhà trai gồm có ông mờ, 3 phù rể, chú rể và họ hàng nội ngoại của nhà trai. Hôm cưới chú rể mặc áo chùng dài, đầu chít khăn trắng, cầm theo bộ dao mới( để giúp việc nhà gái), 1 bộ quần áo mặc thường ngày. Chú rể phải gùi một chón( gùi) xôi(khoảng 1 yến gạo nếp) sang nhà gái.
Về phần nhà gái trước hôm cưới sẽ mời thầy mo đến cúng để thông báo cho tổ tiên biết ngày mai là lễ cưới, tổ chức họp tiền và chuẩn bị làm cơm, chuẩn bị 6-8 ché rượu cần cho ngày cưới, phân công người rót rượu, người xếp mâm, làm cỗ cho hôm cưới,…
            Khi nhà trai sang nhà gái đón dâu, tới nhà gái họ hàng nhà trai vào hết gian ngoài ngồi và đợi khi ổn định xong xuôi thì nhà gái( ngồi ở gian trong) cử người đại diện ra chào hỏi. Nhà trai để 4 cây mía ở gần bàn thờ nhà gái, ông mờ trao tiền trốp và tiền lõi nòm cho bố cô dâu.  Sau đó hai bên nhà trai và nhà gái thi uống rượu cần và cùng nhau chúc tụng cho hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ. Sau chầu rượu chao mang(chầu rượu cuối) nhà gái mang cỗ mời hai bên nhà trai và nhà gái ăn cơm. Ăn xong nhà trai xin phép nhà gái ra về. Riêng ông mờ của nhà gái sẽ được nhà gái cho một mâm cơm và đế của con lợn, thịt bao nhiêu con lợn thì ông mờ được bấy nhiêu đế(đế chính là phần mông con lợn còn nguyên cả đuôi). Lúc này nhà gái cũng mang khăn trốp(do họ hàng nhà gái chuẩn bị) và tiền mừng rể cho nhà trai. Lúc ăn cơm chú rể cũng phải chuẩn bị sẵn tiền để cho anh chị em của vợ. Sau lễ cưới, đoàn nhà trai về hết chỉ còn chú rể và ba phù rể ở lại nhà cô dâu giúp việc trong 3 ngày sau đó chú rể về nhà mình và 3 hôm tiếp theo lại sang nhà vợ làm lễ lại mặt rể. Hôm này chú rể phải mặc áo chùng, mang 20 bánh tàu khỉu(bánh bột gạo nếp, đỉnh bánh nhọn) mang sang nhà gái làm lễ lại rể, sau đó chàng rể ở lại nhà vợ làm giúp: đi cày, chặt củi,…khi đi làm về chàng rể lại phải thay quần áo chùng mặc để biểu thị sự tôn trọng đối với bố mẹ vợ.
            Bước thứ 6  là lễ dâu về nhà chồng. Lễ dâu về nhà chồng cách lễ cưới 3 đến 4 tháng hoặc có khi là 2 đến 3 năm. Sau khi đã chọn được ngày tốt ông mối nhà trai sang nhà gái thông báo ngày cô dâu về nhà chồng. Hôm dâu về nhà chồng, cô dâu phải mặc áo chùng dài của phụ nữ mường, đầu đội nón và gùi một chón xôi. Đi cùng cô dâu là ông mối bên nhà gái và họ hàng hai bên nội ngoại nhà gái. Ở bên nhà trai, bố mẹ và họ hàng chú rể chuẩn bị áo váy, thịt lợn làm cỗ tiếp đoàn nhà gái. Khi đoàn nhà gái đến nhà trai, một người phụ nữ đại diện bên nhà trai  có gia đình hạnh phúc, con cái có nếp có tẻ, gia đình làm ăn khấm khá ra đỡ nón trên đầu cô dâu và múc nước rửa chân cho cô dâu. Khi bước chân vào nhà, cô dâu được mẹ chồng dắt tay dẫn vào trong bếp và cô dâu đặt chân lên hòn nục( một trong 3 ông đầu rau) làm nghi thức thông báo cho thần bếp về sự hiện diện của mình. Đợi mọi người trong đoàn nhà gái ngồi ổn định, ông mối nhà gái dắt cô dâu ra bàn thờ nhà trai làm lễ trước bàn thờ nhà trai. Xong nghi thức này, nhà trai mang váy áo đã chuẩn bị trước đưa cho nhà gái. Cuối cùng hai bên nhà trai và nhà gái cùng nhau uống rượu, ăn cơm. Sau khi tiệc rượu kết thúc, đoàn nhà gái xin phép đi về, cô dâu và 3 phù dâu ở lại nhà trai 3 ngày để làm các công việc của nhà chồng. Kết thúc lễ cưới và lễ dâu về nhà chồng, mỗi phù dâu và phù rể được nhà trai và nhà gái tặng quà cám ơn. Đối với mỗi phù rể được nhà trai tặng 1 khăn đội đầu và từ 3 đến 5 đồng tiền. Mỗi phù dâu được nhà gái tặng cho 1 chiếc váy và quà cùng với 3 đến 5 đồng tiền.
            Kết thúc lễ đưa dâu về nhà chồng cô dâu và chú rể vẫn thường xuyên qua lại hai bên nhà nội ngoại giúp việc khi có công việc. Tuy nhiên trong thời gian này cô dâu và chú rể vẫn chưa được chung gường.
           Lễ chung gường là nghi thức cuối cùng trong nghi thức đám cưới của người Mường Bi ở xã Phú Cường. Trước kia lễ chung giường cách lễ cưới 3 năm, khi chọn được ngày tốt bố mẹ cô dâu mời thày cúng về làm vía cho đôi vợ chồng trẻ, mẹ cô dâu nhờ một người phụ nữ trong họ hàng có gia đình hạnh phúc đến trải chiếu và căng màn cho đôi vợ chồng trẻ. Mẹ cô dâu gọi chú rể ra nói chuyện và cho phép chú rể từ nay được “ lên t’rùa” ( có nghĩa là được chung giường với vợ), chú rể cúi xuống lạy tạ mẹ vợ 3 vái.
            Cho đến lúc này cô dâu và chú rể vẫn thường xuyên đi lại làm giúp hai bên gia đình, cô dâu vẫn chưa về hẳn nhà chồng. Chỉ khi nào cô dâu sinh con đầu lòng thì vợ chồng cô mới chính thức về sống ở nhà chồng. Khi cô dâu và con đầu lòng về nhà chồng, bố mẹ cô dâu sẽ làm cơm thông báo cho họ hàng anh em tới, mọi người sẽ mang gà, quà tặng cho cô dâu trước khi về nhà chồng.
            Khi con đầu lòng của đôi vợ chồng trẻ được 3 đến 4 tháng, nhà trai sẽ mổ lợn làm 7 đến 8 mâm cơm để thông báo cho họ hàng nhà trai, nhà trai làm riêng một mâm cơm và để dành một đế(một mông lợn) mang sang cảm tạ ông mối. Và từ đây gia đình trẻ chính thức về nhà chồng sinh sống cùng với bố mẹ chồng.
            Nghi thức cưới  cổ truyền của người Mường Bi ở xã Phú Cường, huyện Tân Lạc đặc trưng cho nghi lễ cưới xin của người Mường ở Hòa Bình. Qua nghi lễ cưới của người Mường Bi chúng ta có thể nhận thấy rằng đối với người Mường, lễ cưới chính là một trong những nghi thức quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người. Qua lễ cưới chúng ta cảm nhận được sự đoàn kết và giúp đỡ nhau của người Mường, lễ cưới không còn là công việc của một gia đình mà nó là công việc của cả họ hàng, làng xóm. Trong đám cưới những nghi thức và luật tục của người Mường được thể hiện và gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác với ước mong cầu chúc cho cuộc sống mới của đôi vợ chồng trẻ được hạnh phúc, con đàn cháu đống.
 
Tài liệu tham khảo
 
1. Nguyễn Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1995
2. Nguyễn Từ Chi, Lê Mạnh Năm, Nét độc đáo và phức hợp trong văn hóa cổ truyền Mường, Báo cáo khoa học, hội thảo 50 năm nghiên cứu văn hóa Mường, 1995.
3.Nguyễn Ngọc Thanh (chủ biên), Người Mường ở Tân Lạc tỉnh Hòa Bình, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2003.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Nghiên cứu trao đổi
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập10
  • Hôm nay924
  • Tháng hiện tại17,526
  • Tổng lượt truy cập582,346
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây